KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG PALIVIZUMAB TRONG DỰ PHÒNG RSV Ở TRẺ CÓ NGUY CƠ CAO

Khoa Dược BVN 29/08/2025
  1. Virus hợp bào hô hấp là gì?

Virus hợp bào hô hấp (RSV) là một trong nhiều mầm bệnh gây nhiễm trùng đường hô hấp. Mặc dù các triệu chứng của nhiễm virus thường nhẹ và tự khỏi, nhưng ở một số bệnh nhân, nhiễm virus có thể diễn biến nặng lên.

Virus hợp bào hô hấp thuộc giống Pneumovirus, có vật chất di truyền ở dạng RNA. Mầm bệnh có ái lực đặc biệt với biểu mô của đường hô hấp.

Khi các tế bào bị nhiễm virus, nó kết hợp thành cấu trúc lớn hơn, tạo ra hợp bào trong hệ hô hấp, dẫn đến sự chuyển động kém của các lông mao trong biểu mô đường hô hấp. Từ đó sản xuất quá nhiều chất nhầy, khiến bệnh nhân cảm thấy hụt hơi và khó thở.

Virus hợp bào hô hấp gây nhiễm trùng đường hô hấp.
Virus hợp bào hô hấp gây nhiễm trùng đường hô hấp.

RSV lây lan qua các giọt nhỏ trong không khí và tiếp xúc trực tiếp với người mang mầm bệnh. Khả năng lây nhiễm RSV cao, ngay cả khi tiếp xúc ngắn với người bệnh cũng có thể bị lây nhiễm.

RSV là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Đối với trẻ khỏe mạnh, nhiễm RSV không nguy hiểm. Nhưng ở trẻ sinh non, trẻ bị suy giảm miễn dịch và mắc một số dị tật bẩm sinh, đặc biệt là hệ hô hấp và cơ tim, thì khi nhiễm RSV có thể gây ra hậu quả xấu. Nhiễm RSV có thể dẫn đến suy giảm chức năng phổi, gia tăng nguy cơ bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính.

Trẻ em mắc các bệnh đi kèm có thể bị nhiễm RSV nặng hơn. Những bệnh nhân này có thể bị suy hô hấp cấp tính và thường phải điều trị tại bệnh viện.

Các biến chứng nghiêm trọng bao gồm viêm phổi, viêm tai giữa do vi khuẩn thứ phát. Ở nhóm bệnh nhân này, ban đầu tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp trên thường lan xuống đường hô hấp dưới gây viêm phế quản, viêm phổi.

  1. Kháng thể đơn dòng Palivizumab

Vai trò của kháng thể đơn dòng:

Hiện tại, Việt Nam chưa có vắc xin phòng ngừa RSV, vì vậy việc sử dụng kháng thể đơn dòng là biện pháp bảo vệ hiệu quả cho nhóm trẻ có nguy cơ cao trước tác động của virus hợp bào hô hấp.

Palivizumab đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới gần 30 năm và được Cục Quản lý Dược Việt Nam cấp số đăng ký lưu hành vào tháng 12/2024. Đây là kháng thể đơn dòng có tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đường hô hấp dưới do RSV.

Cơ chế:

Palivizumab là kháng thể đơn dòng IgG1κ có khả năng nhận diện đặc hiệu virus hợp bào hô hấp (RSV). Thay vì kích thích cơ thể tự sinh kháng thể như vắc xin, palivizumab cung cấp trực tiếp kháng thể sẵn có, giúp trung hòa và ngăn chặn quá trình hòa màng của virus. Nhờ cơ chế này, thuốc đã được chứng minh có tác dụng ức chế sự nhân lên của RSV trong cả nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng.

Chỉ định:

Palivizumab được chỉ định để phòng ngừa bệnh đường hô hấp dưới thể nặng do nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) cho trẻ em có nguy cơ cao trong mùa dịch RSV:

+ Trẻ sinh non ≤35 tuần và ≤ 6 tháng tuổi lúc khởi phát mùa RSV.

+ Trẻ ≤2 tuổi và phải điều trị loạn sản phế quản phổi trong vòng 6 tháng qua.

+ Trẻ ≤2 tuổi mắc bệnh lý tim bẩm sinh có ảnh hưởng đến huyết động bao gồm: tim bẩm sinh không tím, tim bẩm sinh có tím đang điều trị, suy tim đang điều trị, tăng áp phổi mức độ trung bình đến nặng, bệnh tim bẩm sinh đã phẫu thuật 1 phần.

+ Trẻ ≤2 tuổi mắc các bệnh lý thần kinh-cơ, suy giảm miễn dịch, cần sử dụng hóa trị, ghép tế bào gốc, hoặc ghép tạng đặc.

Nếu bỏ lỡ một liều trong mùa RSV, có thể tiêm bổ sung liều đã bỏ qua, nhưng không tiêm quá 5 liều trong một mùa RSV và việc tiêm đuổi sẽ dựa vào tuổi của trẻ và thời gian còn lại trong mùa RSV. Nếu hết mùa RSV, không cần tiêm bổ sung.

Palivizumab không có tác dụng để điều trị RSV khi trẻ đã mắc bệnh.

Thời điểm dự phòng:

Tại Việt Nam, xác định chính xác mùa RSV khá khó khăn. Tuy nhiên, số bệnh nhân tại miền Bắc tăng lên vào những tháng mùa đông xuân (khoảng từ tháng 10 đến tháng 5), sau đó giảm dần vào các tháng 6,7,8. Do đó mùa RSV được tính từ tháng 10 đến tháng 5.

Thời điểm dự phòng khuyến cáo như sau:

+ Trẻ sinh trước mùa RSV hoặc trẻ ≤2 tuổi có nguy cơ cao: nên được tiêm trước khi bắt đầu vào mùa RSV (từ tháng 9 tới tháng 4).

+ Trẻ sinh trong mùa RSV: nên được tiêm ngay sau sinh.

Tuy nhiên, do RSV lưu hành ở mức độ thấp trong năm nên kháng thể đơn dòng có thể được chỉ định vào bất kì thời điểm nào trong năm, đặc biệt là nhóm trẻ có nguy cơ cao.

Liều lượng và cách dùng:

Palivizumab được dùng tiêm bắp, liều khuyến cáo là 15 mg/kg trọng lượng cơ thể, dùng mỗi tháng một lần. Nếu được, liều đầu tiên nên được dùng trước khi bắt đầu mùa RSV. Những liều tiếp theo nên được dùng hàng tháng xuyên suốt mùa RSV (khoảng 5 tháng).

Để giảm nguy cơ tái nhập viện, khuyến cáo trẻ em đang dùng palivizumab bị nhập viện do RSV cần tiếp tục tiêm những liều palivizumab hàng tháng trong suốt mùa RSV (khoảng 5 tháng).

– Kháng thể đơn dòng được tiêm bắp, ưu tiên ở phía trước bên bắp đùi.

– Thể tích tiêm vượt quá 1ml nên được tiêm chia thành hai mũi tiêm.

– Trẻ em trải qua phẫu thuật có chạy tuần hoàn ngoài cơ thể: khuyến cáo tiêm kháng thể đơn dòng ngay khi ổn định sau phẫu thuật để đảm bảo nồng độ trong huyết thanh.

– Kháng thể đơn dòng có thể được tiêm đồng thời cùng vắc- xin dành cho trẻ em và các sản phẩm immunoglobulin.

Hiệu quả:

Theo số liệu nghiên cứu đưa ra bởi nhà sản xuất, sử dụng kháng thể đơn dòng palivizumab 5 liều, mỗi tháng một liều 15mg/kg giúp giảm từ 45 – 55% nguy cơ nhập viện do RSV ở nhóm trẻ có nguy cơ cao (trẻ sinh non, trẻ mắc loạn sản phế quản phổi và trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh ảnh hưởng huyết động). Một nghiên cứu tổng quan hệ thống đăng trên Infectious Diseases and Therapy năm 2018, phân tích 161 nghiên cứu trong giai đoạn 1995–2017, cho thấy palivizumab có hiệu quả rõ rệt trong việc giảm tỷ lệ nhập viện do RSV ở trẻ sinh non ≤35 tuần tuổi thai (giảm 68%), trẻ mắc loạn sản phế quản phổi (giảm 65%) và trẻ sơ sinh có bệnh tim bẩm sinh ảnh hưởng huyết động (giảm 53%). Ngoài ra, thuốc còn giúp giảm tình trạng khò khè tái phát sau nhiễm RSV và được đánh giá là an toàn, ít gây phản ứng nghiêm trọng.

Tác dụng không mong muốn (ADR):

Trong các thử nghiệm lâm sàng và báo cáo hậu mãi ở bệnh nhi, palivizumab ghi nhận tác dụng không mong muốn thường gặp gồm sốt, phản ứng tại chỗ tiêm và ngưng thở. Các ADR nghiêm trọng hiếm gặp, nhưng cần chuẩn bị xử trí sốc phản vệ khi có nghi ngờ.

Tài liệu tham khảo:

  1. World Health Organization (WHO). Respiratory syncytial virus (RSV) – Fact sheet. Available from: https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/respiratory-syncytial-virus-(rsv)
  2. AstraZeneca UK Limited. Synagis 100 mg/1ml solution for injection. Electronic Medicines Compendium (EMC). Updated 18 Apr 2023. Available from: https://www.medicines.org.uk/emc/product/6963/smpc#gref
  3. Palivizumab: Pediatric drug information. 2024. Accessed 2025.
  4. Simões EAF, Bont L, Manzoni P, Fauroux B, Paes B, Figueras-Aloy J, Checchia PA, Carbonell-Estrany X. Past, present and future approaches to the prevention and treatment of respiratory syncytial virus infection in children. Infect Dis Ther. 2018;7(1):87-120. doi:10.1007/s40121-018-0188-z. PMID: 29470837; PMCID: PMC5840107.

Biên soạn:

  • DS. Bùi Thị Mai Sương – Khoa Dược, Bệnh viện Nhi Hà Nội.

Hiệu đính:

  • ThS.DS. Phùng Chí Kiên –  Bộ môn Dược lâm sàng, Khoa Dược lý – Dược lâm sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội.
  • DSCKII. Vũ Bích Hạnh – Trưởng khoa Dược, Bệnh viện Nhi Hà Nội.