Bạn có thể thấy lạ với thứ thuốc trắng như sữa mà bác sĩ gây mê tiêm cho người bệnh để giúp họ ngủ. Đó chính là Propofol. Propofol có thành phần ít tan trong nước nên thuốc được bào chế ở dạng nhũ tương nên có màu trắng như sữa.

Đây là một thuốc gây mê tĩnh mạch, tác dụng nhanh, được sử dụng trong khởi mê và duy trì mê nói chung và an thần trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt, thuốc an thần gây mê tác dụng ngắn.
Sau khi tiêm tĩnh mạch, thời gian thuốc khởi phát tác dụng từ 15-30 giây và phụ thuộc vào tốc độ tiêm, thời gian tác dụng thường khoảng 5-10 phút, hầu hết bệnh nhân sẽ tỉnh lại khi nồng độ propofol trong máu giảm xuống còn khoảng 1 mcg/mL.
Chỉ định:
Khởi mê và duy trì mê, thuốc mê cho phẫu thuật ngắn ngoài phòng mổ .
Chống chỉ định:
– Mẫn cảm với propofol
– Trẻ sơ sinh (dưới 1 tháng tuổi) không nên sử dụng
– Thận trọng dùng cho phụ nữ có thai, bệnh tim nặng, có tiền sử động kinh, co giật, rối loạn chuyển hóa mỡ máu
Liều dùng thông thường cho trẻ em trên 1 tháng tuổi gây mê:
Khởi mê: Cần điều chỉnh liều từ từ cho tới khi có các dấu hiệu lâm sàng cho thấy trẻ bắt đầu mê. Liều dùng cần điều chỉnh theo tuổi và/hoặc cân nặng. Phần lớn trẻ trên 8 tuổi cần khoảng 2,5 mg/ kg thể trọng. Ở trẻ nhỏ tuổi hơn, đặc biệt từ 1 tháng đến 3 tuổi thì liều dùng khởi mê có thể cao hơn (2,5-4 mg/ kg thể trọng).
Duy trì mê: Có thể dùng propofol duy trì mê bằng cách tiêm từng mũi hoặc truyền tĩnh mạch liên tục. Tốc độ truyền tĩnh mạch thay đổi đáng kể giữa các bệnh nhân, nhưng tốc độ thông thường để đạt được tác dụng gây mê mong muốn là 9-15 mg/kg/giờ. Trẻ nhỏ hơn, đặc biệt từ 1 tháng đến 3 tuổi có thể cần dùng liều cao hơn. Không khuyến cáo duy trì mê bằng propofol cho trẻ em dưới 1 tháng tuổi.
Các bệnh nhi có chỉ số ASA độ III và IV khuyến cáo nên sử dụng liều thấp hơn.
Không sử dụng các thuốc chứa propofol quá 7 ngày do nguy cơ mắc hội chứng truyền propofol khi dùng kéo dài.
Tác dụng trên thần kinh trung ương:
Liều khởi mê thông thường (1.5 – 2.5 mg/kg), propofol gây mất tri giác rất nhanh do thuốc khuếch tán gần như ngay lập tức vào thần kinh trung ương nhờ đặc tính rất tan trong mỡ của nó. Propofol gây giảm lưu lượng máu não, giảm tiêu thụ oxy não do đó nó có tác dụng bảo vệ não.
Tác dụng trên hô hấp:
Propofol gây ra ức chế hô hấp phụ thuộc liều, gây giảm cả thể tích khí lưu thông và thông khí phút, một số trường hợp gây ngừng thở.
Tác dụng trên tim mạch:
Propofol gây giảm huyết áp hệ thống, đặc biệt trên bệnh nhân có thiếu khối lượng tuần hoàn. Hạ huyết áp liên quan đến liều và tốc độ tiêm, giảm tối đa sau khoảng 5-10 phút.
Tác dụng phụ thường gặp:
- Chóng mặt
- Buồn nôn, nôn, co cứng cơ bụng
- Nhức đầu,
- Ngừng thở, nhiễm toan hô hấp
- Đỏ bừng, ngứa
- Co giật cơ
- Tăng lipid máu
- Sốt
Hạ huyết áp, nhịp tim chậm
Nếu xảy ra hạ huyết áp và/hoặc giảm nhịp tim thì cần tăng tốc độ truyền dịch tĩnh mạch, nâng cao chi dưới, dùng các thuốc nâng huyết áp, hoặc dùng atropin.
Có thể giảm tối thiểu đau cục bộ nhất thời ở nơi tiêm propofol nếu tiêm tĩnh mạch lớn ở cẳng tay. Cũng có thể giảm đau khi tiêm propofol bằng cách dùng lidocain đường tĩnh mạch trước đó (1ml dung dịch 1%).
Bác sĩ sẽ dùng lượng thuốc gây mê căn cứ vào độ tuổi, cân nặng, mức độ đau liên quan đến mỗi ca phẫu thuật và nhịp tim, huyết áp và nhịp thở của trẻ. Đã được đào tạo qua nhiều năm dưới sự giám sát chặt chẽ, bác sĩ gây mê là chuyên gia trong việc kiểm soát cơn đau và mức độ gây mê cho các ca phẫu thuật khác nhau và nhu cầu khác nhau của bệnh nhân.
Bài viết bởi Khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Nhi Hà NộiBạn có thể thấy lạ với thứ thuốc trắng như sữa mà bác sĩ gây mê tiêm cho người bệnh để giúp họ ngủ. Đó chính là Propofol. Propofol có thành phần ít tan trong nước nên thuốc được bào chế ở dạng nhũ tương nên có màu trắng như sữa.

Đây là một thuốc gây mê tĩnh mạch, tác dụng nhanh, được sử dụng trong khởi mê và duy trì mê nói chung và an thần trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt, thuốc an thần gây mê tác dụng ngắn.
Sau khi tiêm tĩnh mạch, thời gian thuốc khởi phát tác dụng từ 15-30 giây và phụ thuộc vào tốc độ tiêm, thời gian tác dụng thường khoảng 5-10 phút, hầu hết bệnh nhân sẽ tỉnh lại khi nồng độ propofol trong máu giảm xuống còn khoảng 1 mcg/mL.
Chỉ định:
Khởi mê và duy trì mê, thuốc mê cho phẫu thuật ngắn ngoài phòng mổ .
Chống chỉ định:
– Mẫn cảm với propofol
– Trẻ sơ sinh (dưới 1 tháng tuổi) không nên sử dụng
– Thận trọng dùng cho phụ nữ có thai, bệnh tim nặng, có tiền sử động kinh, co giật, rối loạn chuyển hóa mỡ máu
Liều dùng thông thường cho trẻ em trên 1 tháng tuổi gây mê:
Khởi mê: Cần điều chỉnh liều từ từ cho tới khi có các dấu hiệu lâm sàng cho thấy trẻ bắt đầu mê. Liều dùng cần điều chỉnh theo tuổi và/hoặc cân nặng. Phần lớn trẻ trên 8 tuổi cần khoảng 2,5 mg/ kg thể trọng. Ở trẻ nhỏ tuổi hơn, đặc biệt từ 1 tháng đến 3 tuổi thì liều dùng khởi mê có thể cao hơn (2,5-4 mg/ kg thể trọng).
Duy trì mê: Có thể dùng propofol duy trì mê bằng cách tiêm từng mũi hoặc truyền tĩnh mạch liên tục. Tốc độ truyền tĩnh mạch thay đổi đáng kể giữa các bệnh nhân, nhưng tốc độ thông thường để đạt được tác dụng gây mê mong muốn là 9-15 mg/kg/giờ. Trẻ nhỏ hơn, đặc biệt từ 1 tháng đến 3 tuổi có thể cần dùng liều cao hơn. Không khuyến cáo duy trì mê bằng propofol cho trẻ em dưới 1 tháng tuổi.
Các bệnh nhi có chỉ số ASA độ III và IV khuyến cáo nên sử dụng liều thấp hơn.
Không sử dụng các thuốc chứa propofol quá 7 ngày do nguy cơ mắc hội chứng truyền propofol khi dùng kéo dài.
Tác dụng trên thần kinh trung ương:
Liều khởi mê thông thường (1.5 – 2.5 mg/kg), propofol gây mất tri giác rất nhanh do thuốc khuếch tán gần như ngay lập tức vào thần kinh trung ương nhờ đặc tính rất tan trong mỡ của nó. Propofol gây giảm lưu lượng máu não, giảm tiêu thụ oxy não do đó nó có tác dụng bảo vệ não.
Tác dụng trên hô hấp:
Propofol gây ra ức chế hô hấp phụ thuộc liều, gây giảm cả thể tích khí lưu thông và thông khí phút, một số trường hợp gây ngừng thở.
Tác dụng trên tim mạch:
Propofol gây giảm huyết áp hệ thống, đặc biệt trên bệnh nhân có thiếu khối lượng tuần hoàn. Hạ huyết áp liên quan đến liều và tốc độ tiêm, giảm tối đa sau khoảng 5-10 phút.
Tác dụng phụ thường gặp:
Chóng mặt
Buồn nôn, nôn, co cứng cơ bụng
Nhức đầu,
Ngừng thở, nhiễm toan hô hấp
Đỏ bừng, ngứa
Co giật cơ
Tăng lipid máu
Sốt
Hạ huyết áp, nhịp tim chậm
Nếu xảy ra hạ huyết áp và/hoặc giảm nhịp tim thì cần tăng tốc độ truyền dịch tĩnh mạch, nâng cao chi dưới, dùng các thuốc nâng huyết áp, hoặc dùng atropin.
Có thể giảm tối thiểu đau cục bộ nhất thời ở nơi tiêm propofol nếu tiêm tĩnh mạch lớn ở cẳng tay. Cũng có thể giảm đau khi tiêm propofol bằng cách dùng lidocain đường tĩnh mạch trước đó (1ml dung dịch 1%).
Bác sĩ sẽ dùng lượng thuốc gây mê căn cứ vào độ tuổi, cân nặng, mức độ đau liên quan đến mỗi ca phẫu thuật và nhịp tim, huyết áp và nhịp thở của trẻ. Đã được đào tạo qua nhiều năm dưới sự giám sát chặt chẽ, bác sĩ gây mê là chuyên gia trong việc kiểm soát cơn đau và mức độ gây mê cho các ca phẫu thuật khác nhau và nhu cầu khác nhau của bệnh nhân.
Bài viết bởi Khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Nhi Hà Nội





